CĐ_GDĐĐ_PHAP LUAT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thuận (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:49' 22-03-2015
Dung lượng: 217.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thuận (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:49' 22-03-2015
Dung lượng: 217.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
“ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, PHÁP LUẬT,
LỐI SỐNG/ NẾP SỒNG TRONG TRƯỜNG HỌC”
Chuyên đề
I. Đạo đức và giáo dục đạo đức.
1. Đạo đức là những tiêu chuẩn, những qui định được xã hội thừa nhận định hướng cho hành vi của con người trong các mối quan hệ đối với bản thân và đối với xã hội, môi trường nhằm duy trì và phát triển sự an bình của cuộc sống.
=> Đạo đức là qui tắc về đạo làm người nhằm thực hiện các mối quan hệ đang diễn ra trong cuộc sống, thường gọi là “ Luân thường và đạo lí”.
2. Giáo dục đạo đức là bộ phận hợp thành của hoạt động giáo dục con người đạt tới nhân cách hài hòa toàn vẹn bao gồm: Giáo dục kiến thức đạo đức, giáo dục thái độ đạo đức, giáo dục kĩ năng – hành vi đạo đức.
Tóm lại: Ngày nay gọi là giáo dục giá trị bản thân, vô luận hoàn cảnh nào cũng bao gồm: Lòng nhân ái, các giá trị Chân - Thiện – Mĩ, yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu lao động, yêu hòa bình, đức hy sinh dũng cảm, sự tự tin, tự trọng, biết xấu hổ….
II. Pháp luật và giáo dục pháp luật.
1. Pháp luật là các qui phạm hành vi do nhà nước ban hành và yêu cầu mọi công dân phải tuân thủ vì chính lợi ích của bản thân và lợi ích của cộng đồng.
2. Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục đạo đức, nhằm rèn luyện con người có ý thức tự giác trong cư xử theo lẽ phải đảm bảo cho pháp lí được thực thi có hiệu quả trong đời sống chung.
III. Lối sống/ Nếp sống . và giáo dục Lối sống/ Nếp sống.
1. Lối sống/ Nếp sống là hình thức diễn ra của hoạt động sống (sinh hoạt ) đã trở thành ổn định ( thói quen ) trong hành xử của con người. Có Lối sống/ Nếp sống tích cực và có Lối sống/ Nếp sống tiêu cực.
2. Giáo dục Lối sống/ Nếp sống là sự nối tiếp của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật nhằm làm cho con người có thói quen hiện thực các hành vi tích cực vươn tới trạng thái cao quí trong cuộc sống, thường gọi là Lối sống/ Nếp sống văn hóa, tránh được kiểu sống vô thức, sống bản năng, sống buông thả…
IV. Mối quan hệ của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục Lối sống/ Nếp sống.
Ba lĩnh vực này có mối quan hệ hỗ trợ nhau chặt chẽ để con người có nhân cách toàn diện.
- Một con người biết hành xử theo pháp luật là đạt được cái “ Tối thiểu của nhân cách đạo đức”.
- Một con người luôn biết thường xuyên cư xử có đạo đức trong các mối quan hệ là đạt được “ Tối đa nhân cách pháp luật”
Có thể nói sự phát triển nhân cách của con người như sự lớn lên của một cái cây: Gồm gốc rễ, thân cây và cành lá.
Gốc rễ là ý thức đạo đức.
Thân cây là hành vi Pháp luật.
Cành lá là Lối sống/ Nếp sống.
Gốc rễ có vững, thân có chắc khỏe thì cành lá mới xum xuê đem lại hoa thơm, trái ngọt, bóng mát cho đời.
Ý thức đạo đức
Hành vi Pháp luật
Lối sống/ Nếp sống
Giáo dục ở nhà trường là cơ sở quan trọng cho ba lĩnh vực trên vì giáo dục nhà trường bao giờ cũng được tiến hành có tính tổ chức, tính kế hoạch, tính mục đích. Đương nhiên sự giáo dục này chỉ có kết quả cao nếu có sự hỗ trợ của giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
V. Thuận lợi và thách thức cho công tác giáo dục “ Đạo đức, Pháp luật, Lối sống/ Nếp sống cho thế hệ trẻ hiện nay.
1. Thế giới phẳng.
Những năm gần đây nhân loại rất ấn tượng với cuốn sách “ Thế giới phẳng” của nhà văn Friedman, Ông mô tả thế giới đang phẳng lại nhờ các tiến bộ của kĩ thuật. Tuy nhiên nhiều nhà văn hóa đã cảnh báo “ Thế giới phẳng lại nhờ kĩ thuật, song thế giới càng gồ ghề hơn do các rạn nứt về văn hóa và khủng hoảng về giá trị sống”.
Từ những năm 90 của thế kỉ trước, Ông Raja Roy Singh nhà giáo dục lớn của Ấn Độ, nguyên giám đốc của UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã lên tiếng cảnh báo: “ Trong khi sự bùng nổ về kiến thức đang mở rộng, khả năng trí tuệ của con người và thành tựu công nghệ được sử dụng để đem lại của cải và giàu mạnh kinh tế cho một bộ phận của thế giới thì lĩnh vực giá trị con người bị giảm sút và tiếp tục xói mòn…Sự khủng hoảng này đang tràn vào các gia đình, cộng đồng nhà trường như một bóng đen”.
2. Hoàn cảnh của Việt Nam.
Đất nước ta không đứng ngoài sự thách thức chung của thời đại. Nhờ đổi mới kinh tế - xã hội đất nước có sự cải thiện về mức sống vật chất đầy ấn tượng. Song bên cạnh đó nhân cách thế hệ trẻ của nước ta đang bị giao thoa bởi ba hệ giá trị: Hệ giá trị do quá trình lạc hậu của giáo dục từ chương tác động, hệ giá trị do hệ lụy nền giáo dục chịu ảnh hưởng kinh tế bao cấp tác động, hệ giá trị do nền giáo dục nhúng vào nền kinh tế thị trường do sự chưa hoàn chỉnh đã tạo nên tiêu cực tác động vào dạy học. Chính sự giao thoa này mà nhân cách của một bộ phận thế hệ trẻ bị méo mó: Trong một con người vừa có chút đáng yêu, đáng nể trọng lại có nét đáng trách cứ than phiền.
3. Thái độ và hành động của nhà giáo dục.
Trước hiện tượng ngày càng có nhiêu người trẻ sống phi chuẩn mực, thời gian qua ba lực lượng: Nhà trường, gia đình và xã hội có sự đổ lỗi cho nhau: Gia đình cho nhà trường chưa làm tròn trách nhiệm, nhà trường cho gia đình mải lo kiếm tiền chưa quan tâm đến sự phát triển nhân cách của con em mình, gia đình và nhà trường cho rằng mỗi chủ thể này đã làm hết sức mình, con em có hư là hư ở quãng đường từ nhà đến trường và từ trường về nhà.
Nhìn một cách khách quan thì cả nhà trường, gia đình và xã hội đều làm chưa tốt nhiệm vụ của mình trước yêu cầu của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật và giáo dục lối sống/ nếp sống cho thế hệ trẻ.
Điều cần thiết hiện nay phải có sự kết hợp với nhau coi “ Thân giáo > ngôn giáo” ( người lớn phải làm gương ) phải nhìn thế hệ trẻ với cặp mắt tôn trọng, có thái độ yêu thương, khơi thông khích lệ nét khả ái, khả úy chứ không phải săm soi nét khả ố ở họ. Tất nhiên không thể thờ ơ với các sự lệch chuẩn làm cho luân thường đạo lí bị đảo lộn.
Bác Hồ đã chỉ ra “ Mỗi con người có cái thiện, cái ác ở trong lòng, ta phải làm thế nào để cho phần thiện tốt tươi như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi”
VI. Nội dung và phương pháp chủ yếu thực hiên giáo dục “ Đạo đức - Pháp luật - Lối sống” cho thế hệ trẻ.
1. Nội dung.
Cho dù sự phát triển lí luận đạo đức có phong phú đến đâu, thông điệp đưa ra hiện đại đến mấy thì năm bộ giá trị hàm ngôn phải được quán triệt khi kiến tạo nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, lối sống/ nếp sống cho thế hệ trẻ.
2. Phương pháp.
- Kết hợp thuyết trình, nêu gương và tổ chức để thế hệ trẻ được trải nghiệm thực tế.
- Chú ý về giáo dục đồng đẳng.
- Kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Song phải thúc đẩy sự tự giáo dục, tự đào tạo, sự lập trí của thế hệ trẻ.
- Vai trò của giáo dục tư duy đến giáo dục ý thức đạo đức – hành vi pháp luật – lối sống/ nếp sống.
Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông (trích trong tập sách Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông _ nxb Giáo dục).
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam những năm qua, có thể đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau: (21KN)
1. Kĩ năng tự nhận thức.
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
2. Kĩ năng xác định giá trị.
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
3. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp. Kĩ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc.
4. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên, có những tình huống có thể gâu căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại.
5. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác
6. Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.
7. Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.
8. Kĩ năng lắng nghe tích cực
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.
9. Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
10. Kĩ năng thương lượng.
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.
11. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó.
12. Kĩ năng hợp tác.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
13. Kĩ năng tư duy phê phán.
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra.
14. Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
15. Kĩ năng ra quyết định
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giả quyết buộc chúng ta phải lực chọn, đưa ra quyết định hành động.
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định.
16. Kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác như:Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
17. Kĩ năng kiên định.
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.
18. Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm.
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
19. Kĩ năng đạt mục tiêu.
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ.
20. Kĩ năng quản lý thời gian.
Kĩ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất.
21. Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
LỐI SỐNG/ NẾP SỒNG TRONG TRƯỜNG HỌC”
Chuyên đề
I. Đạo đức và giáo dục đạo đức.
1. Đạo đức là những tiêu chuẩn, những qui định được xã hội thừa nhận định hướng cho hành vi của con người trong các mối quan hệ đối với bản thân và đối với xã hội, môi trường nhằm duy trì và phát triển sự an bình của cuộc sống.
=> Đạo đức là qui tắc về đạo làm người nhằm thực hiện các mối quan hệ đang diễn ra trong cuộc sống, thường gọi là “ Luân thường và đạo lí”.
2. Giáo dục đạo đức là bộ phận hợp thành của hoạt động giáo dục con người đạt tới nhân cách hài hòa toàn vẹn bao gồm: Giáo dục kiến thức đạo đức, giáo dục thái độ đạo đức, giáo dục kĩ năng – hành vi đạo đức.
Tóm lại: Ngày nay gọi là giáo dục giá trị bản thân, vô luận hoàn cảnh nào cũng bao gồm: Lòng nhân ái, các giá trị Chân - Thiện – Mĩ, yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu lao động, yêu hòa bình, đức hy sinh dũng cảm, sự tự tin, tự trọng, biết xấu hổ….
II. Pháp luật và giáo dục pháp luật.
1. Pháp luật là các qui phạm hành vi do nhà nước ban hành và yêu cầu mọi công dân phải tuân thủ vì chính lợi ích của bản thân và lợi ích của cộng đồng.
2. Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục đạo đức, nhằm rèn luyện con người có ý thức tự giác trong cư xử theo lẽ phải đảm bảo cho pháp lí được thực thi có hiệu quả trong đời sống chung.
III. Lối sống/ Nếp sống . và giáo dục Lối sống/ Nếp sống.
1. Lối sống/ Nếp sống là hình thức diễn ra của hoạt động sống (sinh hoạt ) đã trở thành ổn định ( thói quen ) trong hành xử của con người. Có Lối sống/ Nếp sống tích cực và có Lối sống/ Nếp sống tiêu cực.
2. Giáo dục Lối sống/ Nếp sống là sự nối tiếp của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật nhằm làm cho con người có thói quen hiện thực các hành vi tích cực vươn tới trạng thái cao quí trong cuộc sống, thường gọi là Lối sống/ Nếp sống văn hóa, tránh được kiểu sống vô thức, sống bản năng, sống buông thả…
IV. Mối quan hệ của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục Lối sống/ Nếp sống.
Ba lĩnh vực này có mối quan hệ hỗ trợ nhau chặt chẽ để con người có nhân cách toàn diện.
- Một con người biết hành xử theo pháp luật là đạt được cái “ Tối thiểu của nhân cách đạo đức”.
- Một con người luôn biết thường xuyên cư xử có đạo đức trong các mối quan hệ là đạt được “ Tối đa nhân cách pháp luật”
Có thể nói sự phát triển nhân cách của con người như sự lớn lên của một cái cây: Gồm gốc rễ, thân cây và cành lá.
Gốc rễ là ý thức đạo đức.
Thân cây là hành vi Pháp luật.
Cành lá là Lối sống/ Nếp sống.
Gốc rễ có vững, thân có chắc khỏe thì cành lá mới xum xuê đem lại hoa thơm, trái ngọt, bóng mát cho đời.
Ý thức đạo đức
Hành vi Pháp luật
Lối sống/ Nếp sống
Giáo dục ở nhà trường là cơ sở quan trọng cho ba lĩnh vực trên vì giáo dục nhà trường bao giờ cũng được tiến hành có tính tổ chức, tính kế hoạch, tính mục đích. Đương nhiên sự giáo dục này chỉ có kết quả cao nếu có sự hỗ trợ của giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
V. Thuận lợi và thách thức cho công tác giáo dục “ Đạo đức, Pháp luật, Lối sống/ Nếp sống cho thế hệ trẻ hiện nay.
1. Thế giới phẳng.
Những năm gần đây nhân loại rất ấn tượng với cuốn sách “ Thế giới phẳng” của nhà văn Friedman, Ông mô tả thế giới đang phẳng lại nhờ các tiến bộ của kĩ thuật. Tuy nhiên nhiều nhà văn hóa đã cảnh báo “ Thế giới phẳng lại nhờ kĩ thuật, song thế giới càng gồ ghề hơn do các rạn nứt về văn hóa và khủng hoảng về giá trị sống”.
Từ những năm 90 của thế kỉ trước, Ông Raja Roy Singh nhà giáo dục lớn của Ấn Độ, nguyên giám đốc của UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã lên tiếng cảnh báo: “ Trong khi sự bùng nổ về kiến thức đang mở rộng, khả năng trí tuệ của con người và thành tựu công nghệ được sử dụng để đem lại của cải và giàu mạnh kinh tế cho một bộ phận của thế giới thì lĩnh vực giá trị con người bị giảm sút và tiếp tục xói mòn…Sự khủng hoảng này đang tràn vào các gia đình, cộng đồng nhà trường như một bóng đen”.
2. Hoàn cảnh của Việt Nam.
Đất nước ta không đứng ngoài sự thách thức chung của thời đại. Nhờ đổi mới kinh tế - xã hội đất nước có sự cải thiện về mức sống vật chất đầy ấn tượng. Song bên cạnh đó nhân cách thế hệ trẻ của nước ta đang bị giao thoa bởi ba hệ giá trị: Hệ giá trị do quá trình lạc hậu của giáo dục từ chương tác động, hệ giá trị do hệ lụy nền giáo dục chịu ảnh hưởng kinh tế bao cấp tác động, hệ giá trị do nền giáo dục nhúng vào nền kinh tế thị trường do sự chưa hoàn chỉnh đã tạo nên tiêu cực tác động vào dạy học. Chính sự giao thoa này mà nhân cách của một bộ phận thế hệ trẻ bị méo mó: Trong một con người vừa có chút đáng yêu, đáng nể trọng lại có nét đáng trách cứ than phiền.
3. Thái độ và hành động của nhà giáo dục.
Trước hiện tượng ngày càng có nhiêu người trẻ sống phi chuẩn mực, thời gian qua ba lực lượng: Nhà trường, gia đình và xã hội có sự đổ lỗi cho nhau: Gia đình cho nhà trường chưa làm tròn trách nhiệm, nhà trường cho gia đình mải lo kiếm tiền chưa quan tâm đến sự phát triển nhân cách của con em mình, gia đình và nhà trường cho rằng mỗi chủ thể này đã làm hết sức mình, con em có hư là hư ở quãng đường từ nhà đến trường và từ trường về nhà.
Nhìn một cách khách quan thì cả nhà trường, gia đình và xã hội đều làm chưa tốt nhiệm vụ của mình trước yêu cầu của giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật và giáo dục lối sống/ nếp sống cho thế hệ trẻ.
Điều cần thiết hiện nay phải có sự kết hợp với nhau coi “ Thân giáo > ngôn giáo” ( người lớn phải làm gương ) phải nhìn thế hệ trẻ với cặp mắt tôn trọng, có thái độ yêu thương, khơi thông khích lệ nét khả ái, khả úy chứ không phải săm soi nét khả ố ở họ. Tất nhiên không thể thờ ơ với các sự lệch chuẩn làm cho luân thường đạo lí bị đảo lộn.
Bác Hồ đã chỉ ra “ Mỗi con người có cái thiện, cái ác ở trong lòng, ta phải làm thế nào để cho phần thiện tốt tươi như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi”
VI. Nội dung và phương pháp chủ yếu thực hiên giáo dục “ Đạo đức - Pháp luật - Lối sống” cho thế hệ trẻ.
1. Nội dung.
Cho dù sự phát triển lí luận đạo đức có phong phú đến đâu, thông điệp đưa ra hiện đại đến mấy thì năm bộ giá trị hàm ngôn phải được quán triệt khi kiến tạo nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, lối sống/ nếp sống cho thế hệ trẻ.
2. Phương pháp.
- Kết hợp thuyết trình, nêu gương và tổ chức để thế hệ trẻ được trải nghiệm thực tế.
- Chú ý về giáo dục đồng đẳng.
- Kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Song phải thúc đẩy sự tự giáo dục, tự đào tạo, sự lập trí của thế hệ trẻ.
- Vai trò của giáo dục tư duy đến giáo dục ý thức đạo đức – hành vi pháp luật – lối sống/ nếp sống.
Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông (trích trong tập sách Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông _ nxb Giáo dục).
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam những năm qua, có thể đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông bao gồm các KNS cơ bản, cần thiết sau: (21KN)
1. Kĩ năng tự nhận thức.
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
2. Kĩ năng xác định giá trị.
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
3. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp. Kĩ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc.
4. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên, có những tình huống có thể gâu căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho người khác và ngược lại.
5. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác
6. Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.
7. Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết.
8. Kĩ năng lắng nghe tích cực
Lắng nghe tích cực là một phần quan trọng của kĩ năng giao tiếp. Người có kĩ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp.
9. Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.
10. Kĩ năng thương lượng.
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích, đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.
11. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó.
12. Kĩ năng hợp tác.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
13. Kĩ năng tư duy phê phán.
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra.
14. Kĩ năng tư duy sáng tạo.
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan niệm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ.
15. Kĩ năng ra quyết định
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giả quyết buộc chúng ta phải lực chọn, đưa ra quyết định hành động.
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời.
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định.
16. Kĩ năng giải quyết vấn đề.
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác như:Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
17. Kĩ năng kiên định.
Kĩ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn và lí do dẫn đến sự mong muốn đó. Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền, nhu cầu của mình với quyền, nhu cầu của người khác.
18. Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm.
Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
19. Kĩ năng đạt mục tiêu.
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ.
20. Kĩ năng quản lý thời gian.
Kĩ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất.
21. Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
 






Các ý kiến mới nhất